Mặt khác, một thuật ngữ đơn lẻ có thể được biểu đạt bằng nhiều từ khác nhau. Không ai đặt câu hỏi Bài thơ đó viết về điều gì?. Ở Mỹ, trẻ thường bắt đầu giai đoạn này bằng việc học một số từ có tính trực quan, và cố gắng học thành thạo khoảng ba, bốn trăm từ khi kết thúc năm học đầu tiên.
Những nguyên tắc này có thể được nêu lên, nhưng không phải ở mọi nơi mọi lúc. Nhưng bạn cũng không nên nghĩ rằng không có sự thay đổi vè phương diện từ đồng nghĩa khi thuật ngữ vẫn được giữ nguyên. Chúng tôi đã quan sát và nhận thấy tác giả những cuốn sách khoa học tự nhiên thường làm rõ những gì ông ta giả định và mong muốn chứng minh.
Thucydides đã nói rằng ông ta viết câu chuyện lịch sử đó để con người tương lai không mắc lại lỗi lầm mà con người ở thời ông mắc phải, cũng như để nhân loại không phải gánh chịu những hậu quả mà cá nhân ông đã phải chịu đựng cùng sự đau đớn của đất nước quê hương ông. Tất cả các biện pháp chúng tôi đưa ra nhằm giúp bạn xác định những từ quan trọng trong một cuốn sách sẽ không đem lại kết quả gì, trừ phi bạn nỗ lực ghi chú và tìm ra ý tưởng ẩn chứa trong các từ đó. Những gì ông đã gắng sức cơ bản là khoác lên triết học bộ áo quần của toán học, đem lại cho nó sự chắc chắn và cấu trúc chính thống như Euclid đã làm với hình học trước đó 2.
Chúng tôi sẽ quay lại loại ghi chú này ở Chương 20. Các phần được kết hợp và lồng ghép với nhau khi trình độ thực hiện đã lên đến mức tự động hoá. Đánh giá đó gần như không bao giờ thấy có trong sách vì chính tác giả của cuốn sách thực hành cũng không thể lường trước được các tình huống thực tiễn cụ thể mà trong đó người đọc phải hành động.
Bây giờ chúng tôi sẽ đi sâu phân tích một phần nhỏ - phần thứ hai của Hiến pháp. Bạn dùng loại nào tuỳ thuộc vào cấp độ mà bạn đang đọc. Họ đã quen với những ẩn ý, những biến đổi sắc thái ý nghĩa của các từ đó trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Sau khi đọc xong và hiểu được nội dung của một cuốn sách triết học, ta có thể kiểm tra tính chân thực của nó dựa trên kinh nghiệm thông thường. Rõ ràng, người đó đã nâng mình lên nhờ chính hoạt động của bản thân, mặc dù có sự giúp đỡ gián tiếp của tác giả - người đã mang đến điều gì đó để dạy người đọc. Chiến tranh chỉ làm nền cho cả hai câu chuyện, làm bối cảnh cho phần lớn cuộc đời nhân vật, còn bản thân câu chuyện mới là cái thu hút sự chú ý của chúng ta.
Điều này tương đối dễ thực hiện. Giả sử nếu ông sử dụng từ reading theo một nghĩa khác ở một phần khác trong cuốn sách - chẳng hạn trong cụm từ reading nature (bản chất của việc đọc) thì độc giả vẫn dễ dàng nhận thấy sự chuyển đổi sắc thái ý nghĩa của từ reading. Xác định các vấn đề chính và phụ bằng cách sắp xếp các câu trả lời đối ngược nhau của các tác giả vào các câu hỏi về một mặt của vấn đề này hay vấn đề kia.
Họ nhất quyết từ chối sử dụng dù ít hay nhiều các thuật ngữ hay khái niệm chuyên ngành trong báo chí phổ thông và các tài liệu khác. Điều này không có nghĩa là nhà khoa học và người nguyên thuỷ kia không thể thống nhất với nhau về bất kỳ dữ kiện nào, mà cả hai phải đồng ý rằng một chỉnh thể vật chất bao giờ cũng lớn hơn bất kỳ bộ phận nào trong nó. Khi không có những cố gắng này, hầu hết độc giả sẽ không ý thức được mình đã bỏ lỡ những gì trong tác phẩm.
Họ trình bày thẳng thắn về các quan điểm triết học chứ không đưa ra các mâu thuẫn về ý kiến hay giả thuyết như của Platon. Đọc bất kỳ dưới bất kỳ hình thức nào cũng là một hoạt động. Nó quan trọng trong đọc sách triết vì bản thân mỗi triết gia là một độc giả lớn của những triết gia khác.
Những gì ban đầu bạn làm còn rất lúng túng thì sau khi luyện tập, bạn có thể làm một cách tự động, hay làm theo bản năng như thể bạn sinh ra để làm việc đó, tự nhiên như việc đi lại hay ăn uống. Nếu bạn không hiểu bất cứ từ nào trong định nghĩa, bạn sẽ không thể hiểu được ý nghĩa của từ gọi tên vật được định nghĩa. Tất cả những gì bạn có thể làm là suy nghĩ về câu hỏi.